Thực trạng người lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về Print

CAMSA - ngày 17/03/2011.

LTS: Vừa qua, Viện Khoa hoc Lao động và Xã hội công bố kết quả khảo sát "Đánh giá thực trạng người lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về Việt Nam". Dưới đây là một số điểm đáng lưu ý.

Hôm qua (16/3), Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã công bố đánh giá thực trạng trong giai đoạn 2004- 2008. Nghiên cứu, điều tra khảo sát trên số lao động ở 4 tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Phú Thọ đi làm việc ở Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia trở về nước đúng hạn và trước hạn. Kết quả cho thấy: Nhiều doanh nghiệp vẫn thiếu tôn trọng quyền lợi của người lao động và nhận thức của người đi xuất khẩu lao động về quyền của mình còn hạn chế.

Trong quá trình đưa lao động sang nước ngoài làm việc, vẫn còn nhiều bất cập. Một trong số đó là việc các doanh nghiệp coi thường người lao động hoặc “qua mặt” người lao động, dẫn đến những thiệt thòi cho lao động khi sang nước ngoài. Theo quy định của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội người lao động phải được hiểu rõ hợp đồng lao động trước khi đi.

Tuy nhiên, bà Trịnh Thu Nga, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu dân số lao động, việc làm (Viện Khoa học- Lao động và Xã hội) đồng thời là trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: số người lao động bị vi phạm thời gian ký kết hợp đồng lao động khá cao (chiếm 54,15%) trong mẫu khảo sát. Theo luật, hợp đồng phải ký trước 7 ngày (quy định trước năm 2007) và phải ký trước 5 ngày (theo quy định sau 2007).

“Thậm chí, có một số lao động (5,74% số người lao động) khi ra đến sân bay mới được doanh nghiệp đưa hợp đồng để ký. Hợp đồng đó, có khi còn bằng tiếng nước ngoài nên người lao động không nắm được nội dung chi tiết các điều khoản trong hợp đồng”, bà Nga cho biết.
Lý giải nguyên nhân khiến còn nhiều trường hợp doanh nghiệp vi phạm, theo nhóm nghiên cứu, do việc thanh kiểm tra các hoạt động xuất khẩu lao động chưa thường xuyên, chưa phát hiện được nhiều tiêu cực ở cơ sở. Công tác giám sát việc ký kết hợp đồng lao động và phổ biến hợp đồng lao động vẫn chưa tốt.

Khi đối thoại với chính quyền các địa phương còn cho thấy một nguyên nhân khác: Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động cán bộ phần lớn đều làm kiêm nhiệm nên hiệu quả hoạt động chưa cao. Mặc dù hầu hết các tỉnh đều có đề án xuất khẩu lao động, hỗ trợ cho người lao động vay vốn..., nhưng việc tuyên truyền chính sách xuất khẩu lao động ở địa phương vẫn chưa sâu rộng.
Bên cạnh đó, nhận thức và ý thức của người lao động về quyền lợi của mình chưa cao. Đa số lao động đi xuất khẩu là lao động trẻ, phần lớn là lao động xuất thân từ nông thôn, trình độ còn thấp. Chỉ có 1/3 số lao động trong diện khảo sát đã tốt nghiệp trung học phổ thông, một bộ phận đáng kể chỉ mới tốt nghiệp tiểu học.

Khi tìm hiểu thông tin trước khi đi nước ngoài làm việc, người lao động có “tâm lý đám đông” và đa số qua những kênh không chính thống. Chỉ có 3,7% số lao động biết về thông tin xuất khẩu lao động qua thông tin đại chúng và 1,69% số người tìm hiểu thông tin qua các trung tâm dịch vụ việc làm, đào tạo nghề.

Trong khi đó, “kênh” người thân, bạn bè là những người đã đi xuất khẩu lao động trước lại có ảnh hưởng rất lớn đối với họ. Chính vì thế, vẫn có tới 13,3% số lao động đi qua “cò mồi”, phải chịu chi phí cao, thiệt thòi.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Hòa, tới đây, cần tăng cường bảo vệ lợi ích, quyền lợi của người lao động nước ta không những trước khi đi mà cả trong quá trình họ làm việc ở nước ngoài. Để làm được điều này, chúng ta đã có nhiều cố gắng, nhưng chưa đủ.

"Bên cạnh trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp, các nước, các tổ chức xã hội tham gia nhiều hơn ngay từ trong quá trình tư vấn ở trong nước cho người lao động cho đến trong quá trình làm việc của người lao động ở nước ngoài”, Thứ trưởng Hòa nói.