Dự thảo Luật phòng chống mua bán người (lần thứ 7) Print

DỰ THẢO LUẬT PHÒNG CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI CỦA VIỆT NAM (Lần thứ 7)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống mua bán người.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định các biện pháp phòng, chống mua bán người; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống mua bán người; xác minh, tiếp nhận, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán; hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Mua bán người được hiểu là một trong các hành vi sau đây:
a) Chuyển giao, tiếp nhận người hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để chuyển giao bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực, lợi dụng tình trạng quẫn bách của người khác hoặc bằng các thủ đoạn khác để đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác hoặc nhằm mục đích bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hay vì mục đích vô nhân đạo khác.
b) Chuyển giao, tiếp nhận hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất để chuyển giao nhằm đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác hoặc nhằm mục đích bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hay vì mục đích vô nhân đạo khác.
2. Nạn nhân là người được xác định bị mua bán trong vụ án mua bán người
Điều 3. Nguyên tắc phòng, chống mua bán người
1. Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống mua bán người trên nguyên tắc lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác thông tin, giáo dục, truyền thông, tư vấn về phòng, chống mua bán người kết hợp với công tác quản lý về an ninh, trật tự và kiểm soát các hoạt động dễ bị lợi dụng để mua bán người.
2. Phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh, kịp thời, chính xác các hành vi mua bán người theo quy định của pháp luật.
3. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong đấu tranh phòng, chống mua bán người. Kết hợp chặt chẽ phòng, chống mua bán người với phòng, chống bạo lực gia đình, bất bình đẳng giới, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.
4. Tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với các nạn nhân.
5. Tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong phòng, chống mua bán người trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và pháp luật quốc tế.
Điều 4. Chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người
1. Hằng năm, Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán người.
2. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho những người làm công tác phòng, chống mua bán người.
3. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước hợp tác, tài trợ cho hoạt động phòng, chống mua bán người và hỗ trợ nạn nhân ổn định cuộc sống, hoà nhập cộng đồng.
4. Khen thưởng cá nhân, tổ chức có thành tích trong công tác phòng, chống mua bán người; bảo đảm chế độ, chính sách đối với người trực tiếp tham gia phòng, chống mua bán người bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ hoặc tài sản theo quy định của pháp luật.
Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân
1. Nạn nhân có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật;
b) Được hưởng các chế độ hỗ trợ quy định của Luật này;
c) Được xem xét để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm hành chính đối với một số hành vi vi phạm cụ thể do mình thực hiện trong quá trình bị mua bán;
d) Cung cấp thông tin liên quan đến việc mua bán người cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền;
đ) Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
2. Người đang chờ xác minh là nạn nhân có các quyền và nghĩa vụ quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều này.
Điều 6. Trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người.
2. Bộ Công an có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người.
3. Các Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người tại địa phương.
Điều 7. Những hành vi bị cấm
1. Các hành vi mua bán người.
2. Cưỡng bức người khác thực hiện hành vi mua bán người.
3. Trả thù, đe dọa trả thù nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân, người tố giác, người làm chứng, người thân thích của họ hoặc người ngăn chặn hành vi mua bán người.
4. Tiết lộ các thông tin cá nhân của nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân liên quan đến việc bị mua bán khi chưa có sự đồng ý của họ.
5. Cản trở việc tố giác, khai báo và xử lý hành vi mua bán người.
6. Kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân.
7. Giả mạo là nạn nhân.
8. Lợi dụng hoạt động phòng, chống mua bán người để trục lợi hoặc thực hiện các hành vi trái pháp luật.
9. Dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi mua bán người.
10. Rửa tiền do phạm tội về mua bán người.
CHƯƠNG II
CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI
Điều 8. Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người
1. Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người nhằm nâng cao nhận thức về trách nhiệm cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và cộng đồng trong đấu tranh phòng, chống mua bán người, về mối hiểm hoạ của mua bán người, làm cho mọi người đề cao cảnh giác, tích cực tham gia phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống mua bán người, chống kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân.
2. Nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người bao gồm:
a) Chính sách, pháp luật về phòng, chống mua bán người;
b) Thủ đoạn và tác hại của hành vi mua bán người;
c) Kỹ năng ứng xử trong trường hợp có nghi ngờ về việc mua bán người;
d) Biện pháp, mô hình, kinh nghiệm trong phòng, chống mua bán người;
đ) Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cộng đồng trong phòng, chống mua bán người;
e) Chống kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân;
g) Các nội dung khác có liên quan đến phòng, chống mua bán người.
3. Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người được thực hiện bằng các phương thức sau đây:
a) Gặp gỡ, nói chuyện trực tiếp;
b) Cung cấp tài liệu tuyên truyền;
c) Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng;
d) Lồng ghép trong việc giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;
đ) Thông qua hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các loại hình văn hoá quần chúng khác;
e) Các phương thức khác.
4. Xây dựng mạng lưới tuyên truyền viên về phòng, chống mua bán người ở cơ sở; huy động sự tham gia tích cực của các đoàn thể xã hội.
5. Chú trọng công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người đối với đối tượng là phụ nữ, thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên và những người cư trú tại khu vực biên giới, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn.
Điều 9. Tư vấn về phòng, chống mua bán người
1. Tư vấn về phòng, chống mua bán người bao gồm các nội dung sau đây:
a) Cung cấp kiến thức pháp luật về phòng, chống mua bán người; thông tin về nguy cơ và mối hiểm hoạ mua bán người;
b) Cung cấp thông tin về thủ đoạn mua bán người và hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong trường hợp có nghi ngờ về việc mua bán người;
c) Cung cấp những thông tin về quyền, nghĩa vụ của nạn nhân và hướng dẫn cách thức thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó.
2. Việc tư vấn phòng, chống mua bán người tập trung vào các đối tượng sau đây:
a) Người có nhu cầu tìm kiếm việc làm hoặc đi du lịch trong nước hoặc ở nước ngoài;
b) Người có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài;
c) Người có nhu cầu cho, nhận con nuôi;
d) Người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ;
đ) Nạn nhân và thân nhân của họ.
Điều 10. Quản lý về an ninh, trật tự
1. Theo dõi nhân khẩu, hộ khẩu ở địa bàn dân cư thông qua công tác hộ tịch, hộ khẩu; tăng cường kiểm tra nhân khẩu ở địa bàn.
2. Giám sát chặt chẽ sự biến động dân cư trên địa bàn thông qua chế độ đăng ký tạm trú, tạm vắng.
3. Giám sát chặt chẽ các đối tượng có tiền án, tiền sự về mua bán người và các đối tượng có nghi vấn khác trên địa bàn.
4. Quản lý và sử dụng có hiệu quả các thông tin về tàng thư, căn cước, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người.
5. Tăng cường tuần tra, kiểm soát tại các cửa khẩu, khu vực biên giới và trên biển nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người.
6. Trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại tại các cửa khẩu quốc tế phục vụ cho việc nhận dạng người và phát hiện nhanh chóng, chính xác các loại giấy tờ, tài liệu giả mạo; nâng cấp các trang thiết bị kiểm soát, kiểm tra tại các chốt kiểm soát, cửa khẩu.
7. Quản lý chặt chẽ công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cấp phát, quản lý và kiểm soát các loại giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh.
8. Phối hợp chặt chẽ với lực lượng biên phòng và các lực lượng chức năng khác của các nước láng giềng trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới nhằm phát hiện, ngăn chặn mua bán người, giải cứu nạn nhân.
Điều 11. Quản lý chặt chẽ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ nhằm phòng ngừa việc lợi dụng các hoạt động này để mua bán người
1. Quản lý chặt chẽ các hoạt động cho, nhận con nuôi, hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài, giới thiệu việc làm, đưa người đi lao động, học tập hoặc du lịch ở nước ngoài, kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ và các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để mua bán người theo quy định của pháp luật.
2. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này nhằm phát hiện, ngăn chặn việc lợi dụng các hoạt động này để mua bán người.
Điều 12. Lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội
1. Phòng, chống mua bán người là một trong những mục tiêu ưu tiên của các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
2. Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, chính quyền địa phương lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người vào trong các chương trình xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ tín dụng cho các hộ gia đình khó khăn để phát triển kinh tế, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chương trình phòng, chống tội phạm, phòng, chống mại dâm và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác.
Điều 13. Phát hiện, tố giác tội phạm về mua bán người
1. Cá nhân khi phát hiện hành vi mua bán người có trách nhiệm tố giác với cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Cảnh sát biển, Bộ đội biên phòng, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức khác. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.
2. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác về tội phạm mua bán người có trách nhiệm kịp thời báo tin về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản, giữ bí mật về nhân thân người tố giác và áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố giác theo quy định của pháp luật khi người đó có nguy cơ bị tấn công.
Điều 14. Phát hiện tội phạm về mua bán người thông qua hoạt động kiểm tra, thanh tra
1. Các tổ chức hoạt động cho, nhận con nuôi, hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài, giới thiệu việc làm, đưa người đi lao động, học tập hoặc du lịch ở nước ngoài, cơ sở kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ và các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để mua bán người phải tự kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình; nếu phát hiện có hành vi mua bán người thì phải kịp thời báo tin bằng văn bản cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông qua hoạt động kiểm tra, thanh tra có trách nhiệm phát hiện tội phạm về mua bán người và kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét, khởi tố vụ án mua bán người theo quy định của pháp luật.
Điều 15. Phát hiện, ngăn chặn tội phạm về mua bán người thông qua hoạt động nghiệp vụ phòng, chống tội phạm
1. Lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tội phạm về mua bán người trong Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển có thẩm quyền và trách nhiệm thực hiện một số hoạt động sau đây:
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan đấu tranh phòng, chống tội phạm về mua bán người tại các địa bàn biên giới, trên biển và nội địa;
b) Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần thiết để phát hiện, ngăn chặn tội phạm về mua bán người;
c) Yêu cầu cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan phục vụ cho việc điều tra, phát hiện, ngăn chặn tội phạm về mua bán người, bảo vệ nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân, người làm chứng và những người khác theo quy định của Luật này và các quy định pháp luật khác có liên quan;
d) Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân, người tố giác, người làm chứng cũng như người thân thích của họ khi những người này bị đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản.
2. Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh yêu cầu của lực lượng phòng, chống tội phạm về mua bán người quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.
3. Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục, thẩm quyền áp dụng các biện pháp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Điều 16. Giải quyết tin báo, tố giác tội phạm về mua bán người hoặc kiến nghị khởi tố vụ án về mua bán người
1. Trong thời hạn không quá hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tin báo, tố giác tội phạm về mua bán người hoặc kiến nghị khởi tố vụ án về mua bán người, cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự về mua bán người.
Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tin báo, tố giác hoặc kiến nghị khởi tố có thể dài hơn nhưng không quá hai tháng.
2. Kết quả giải quyết tin báo, tố giác tội phạm về mua bán người hoặc kiến nghị khởi tố vụ án về mua bán người phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã báo tin, tố giác hoặc kiến nghị khởi tố biết.
3. Trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm về mua bán người, cơ quan điều tra có trách nhiệm giữ bí mật về nhân thân người tố giác, áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn cho người tố giác và người thân thích của họ khi những người này bị đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản.
Điều 17. Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án mua bán người
1. Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án về mua bán người được thực hiện theo quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án về mua bán người, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người bị hại, người làm chứng và người thân thích của họ khi những người này bị đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và của Luật này.
CHƯƠNG III 
XÁC MINH NẠN NHÂN. TIẾP NHẬN VÀ BẢO VỆ NẠN NHÂN,                                      NGƯỜI ĐANG CHỜ XÁC MINH LÀ NẠN NHÂN
MỤC I. TIẾP NHẬN NẠN NHÂN VÀ NGƯỜI ĐANG CHỜ                                                     XÁC MINH LÀ NẠN NHÂN. XÁC MINH NẠN NHÂN.
Điều 18. Tiếp nhận nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân bị mua bán trong nước hoặc bị mua bán ra nước ngoài tự trở về
1. Nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân bị mua bán trong nước hoặc bị mua bán ra nước ngoài tự trở về có thể đến khai báo tại Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi gần nhất.
Cơ quan, tổ chức tiếp nhận khai báo có trách nhiệm chuyển người đó đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở.
2. Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện việc tiếp nhận nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân quy định tại khoản 1 Điều này; hỗ trợ ban đầu trong trường hợp cần thiết và làm thủ tục chuyển giao những người này cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú trước khi bị mua bán hoặc cho cơ sở bảo trợ xã hội nếu họ không có nơi cư trú. Trường hợp họ có nguyện vọng tự trở về nơi cư trú, thì hỗ trợ tiền tàu xe, tiền ăn trong thời gian đi đường.
3. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân cư trú trước khi bị mua bán và cơ sở bảo trợ xã hội đã tiếp nhận họ thực hiện việc phân loại đối tượng. Đối với những người có giấy tờ xác định là nạn nhân thì hướng dẫn họ làm thủ tục nhận các chế độ hỗ trợ quy định tại Điều 26 của Luật này. Trường hợp chưa có giấy tờ xác định là nạn nhân thì làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác minh theo quy định tại Điều 20 của Luật này.
Điều 19. Tiếp nhận nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân bị mua bán ra nước ngoài được Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển giải cứu hoặc tự trở về qua biên giới
1. Nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân bị mua bán ra nước ngoài có quốc tịch Việt Nam được Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển giải cứu hoặc tự trở về qua biên giới được Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển đưa về cơ sở tiếp nhận nạn nhân.
2. Cơ sở tiếp nhận nạn nhân thực hiện việc tiếp nhận nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân quy định tại khoản 1 Điều này; thực hiện hỗ trợ ban đầu và làm các thủ tục theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật này.
Điều 20. Trình tự, thủ tục xác minh nạn nhân
1. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đang chờ xác minh là nạn nhân cư trú trước khi bị mua bán và cơ sở bảo trợ xã hội đã tiếp nhận người đang chờ xác minh là nạn nhân  có trách nhiệm thu thập thông tin về người đang chờ xác minh là nạn nhân và làm thủ tục đề nghị Công an cấp huyện xác minh nạn nhân.
2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ sở bảo trợ xã hội, Công an cấp huyện có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày.
Điều 21. Xác minh, tiếp nhận nạn nhân từ nước ngoài trở về qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc theo thoả thuận song phương 
1. Việc xác minh, tiếp nhận nạn nhân từ nước ngoài trở về qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện như sau:
a) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân và phối hợp với Bộ Công an trong việc xác minh nhân thân của nạn nhân, cấp giấy tờ cần thiết, làm thủ tục đưa họ về nước;
b) Bộ Công an tiếp nhận và chuyển giao nạn nhân cho cơ sở tiếp nhận nạn nhân;
c) Cơ sở tiếp nhận nạn nhân thực hiện việc tiếp nhận và hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật này.
2. Việc tiếp nhận nạn nhân bị mua bán ra nước ngoài có đủ điều kiện trở về Việt Nam theo khuôn khổ thoả thuận song phương được thực hiện theo quy định của thoả thuận song phương đó.
Điều 22. Giấy tờ, tài liệu xác định nạn nhân
Giấy tờ, tài liệu xác định nạn nhân là một trong các giấy tờ, tài liệu sau:
1. Giấy tờ của Cơ quan điều tra hoặc các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra xác nhận người đó là người bị hại trong vụ án mua bán người.
2. Bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra.
3. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát.
4. Bản án, quyết định của Toà án.
5. Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp đã được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hợp pháp hoá lãnh sự hoặc Bộ Ngoại Giao Việt Nam chứng nhận lãnh sự chứng minh người đó là nạn nhân.
MỤC II. GIẢI CỨU NẠN NHÂN, NGƯỜI ĐANG CHỜ XÁC MINH LÀ NẠN NHÂN. BẢO VỆ NẠN NHÂN, NGƯỜI ĐANG CHỜ  XÁC MINH LÀ NẠN NHÂN                            VÀ NGƯỜI THÂN THÍCH CỦA HỌ
Điều 23. Giải cứu, bảo vệ khẩn cấp 
Khi có cơ sở cho rằng một người bị mua bán thì cơ quan quy định tại khoản 1, Điều 15 của Luật này có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để giải cứu; trong trường hợp người đó có nguy cơ bị gây thiệt hại tính mạng, sức khoẻ thì áp dụng các biện pháp bảo vệ khẩn cấp.
Điều 24. Bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân và người thân thích của họ
1. Các biện pháp bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân và người thân thích của họ bao gồm:
a) Cung cấp nơi tạm lánh khi có nguy cơ bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của họ;
b) Bố trí lực lượng bảo vệ tại nơi ở, nơi làm việc, học tập hoặc tại phiên tòa theo quy định của pháp luật;
c) Thay đổi chỗ ở và giữ bí mật thông tin về nơi ở, nơi làm việc, học tập của nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân và người thân thích của họ;
d) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa đối tượng có hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân và người thân thích của họ;
đ) Các biện pháp khác theo quy định của pháp luật.
2. Khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân thì cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này để bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân và người thân thích của họ.
Điều 25. Bảo vệ bí mật cá nhân trong quá trình tố tụng
1. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, người tiến hành tố tụng, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác không được tiết lộ các thông tin cá nhân của nạn nhân do mình biết được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, trừ trường hợp có sự đồng ý của nạn nhân.
2. Tòa án có thể xem xét, quyết định xét xử kín đối với vụ án mua bán người theo yêu cầu của nạn nhân.
CHƯƠNG IV 
HỖ TRỢ NẠN NHÂN, NGƯỜI ĐANG CHỜ XÁC MINH LÀ NẠN NHÂN
Điều 26. Chế độ hỗ trợ
1. Người đang chờ xác minh là nạn nhân quy định tại các điều 18, 19 và 21 của Luật này và trẻ em đi cùng được hưởng chế độ hỗ trợ ban đầu bao gồm: hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ y tế trong trường hợp khẩn cấp, hỗ trợ tâm lý. 
2. Nạn nhân là người có quốc tịch Việt Nam, người không quốc tịch có nơi thường  trú ở Việt Nam được hưởng các chế độ hỗ trợ sau đây:
a) Hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu;
b) Hỗ trợ y tế;
c) Hỗ trợ tâm lý;
d) Trợ giúp pháp lý;
đ) Hỗ trợ học văn hóa, học nghề;
e) Trợ cấp khó khăn ban đầu và hỗ trợ vay vốn.
3. Nạn nhân là người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam được hưởng các chế độ hỗ trợ quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều này.
4. Nạn nhân là trẻ em được hưởng các chế độ hỗ trợ quy định tại các điểm a, b, c, d và đ của khoản 2 Điều này.
Điều 27. Hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu
Trong trường hợp cần thiết, nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân được bố trí chỗ ở tạm thời, được hỗ trợ về ăn, mặc và các vật dụng cá nhân cần thiết khác. Nếu họ có nguyện vọng trở về địa phương thì được hỗ trợ tiền tàu xe và tiền ăn trong thời gian đi đường.
Điều 28. Hỗ trợ y tế
Trong trường hợp nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân cần được điều trị để phục hồi sức khoẻ thì được xem xét hỗ trợ chi phí khám, chữa bệnh.
Điều 29. Hỗ trợ tâm lý
Nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân được hỗ trợ về tâm lý ngay sau khi được giải cứu, tiếp nhận và trong thời gian lưu trú tại cơ sở tiếp nhận hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
Điều 30. Trợ giúp pháp lý
1. Nạn nhân được trợ giúp pháp lý tại các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý.
2. Phạm vi, hình thức, thủ tục đề nghị trợ giúp pháp lý được thực hiện theo các quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.
Điều 31. Hỗ trợ học văn hóa, học nghề
1. Nạn nhân là trẻ em, nếu tiếp tục đi học thì được hỗ trợ tiền học phí, tiền mua sách giáo khoa và đồ dùng học tập trong năm học đầu tiên.
2. Nạn nhân khi trở về địa phương thì được xem xét, hỗ trợ học nghề. Việc tổ chức dạy nghề do hệ thống các Trung tâm dạy nghề tại địa phương thực hiện.
Điều 32. Trợ cấp khó khăn ban đầu và hỗ trợ vay vốn
1. Nạn nhân khi trở về địa phương nếu thuộc hộ nghèo hoặc hoàn cảnh gia đình khó khăn thì được hỗ trợ một lần tiền trợ cấp khó khăn ban đầu.
2. Nạn nhân có nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh thì được xem xét, tạo điều kiện vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo, Quỹ hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật.
3. Bộ Tài chính phối hợp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này.
CHƯƠNG V 
HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI
Điều 33. Nguyên tắc hợp tác quốc tế
Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách hợp tác quốc tế đa phương và song phương trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia với các nước trong khu vực và các nước khác trên thế giới; khuyến khích các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài hợp tác với các cơ quan, tổ chức của Việt Nam trong hoạt động phòng, chống mua bán người.
Điều 34. Thực hiện hợp tác quốc tế
1. Trên cơ sở các quy định của Luật này và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện các chương trình hợp tác với các cơ quan hữu quan của các nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài về tăng cường năng lực pháp luật, thông tin, công nghệ và đào tạo về phòng, chống mua bán người.
2. Việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan của Việt Nam với nước có liên quan để giải quyết vụ việc cụ thể về mua bán người phải tuân theo các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước có liên quan là thành viên hoặc theo thoả thuận trực tiếp giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước có liên quan.
Trong trường hợp Việt Nam và nước có liên quan không cùng tham gia điều ước quốc tế đa phương hoặc chưa ký với nhau điều ước quốc tế song phương thì các cơ quan tư pháp của Việt Nam trong khuôn khổ pháp luật và thực tiễn của mình, được thoả thuận trực tiếp với cơ quan tư pháp của nước có liên quan trong việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về mua bán người.
Điều 35. Hợp tác quốc tế trong việc giải cứu và hồi hương nạn nhân
1. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện để các cơ quan chức năng của Việt Nam hợp tác với các cơ quan hữu quan của nước khác trong việc giải cứu, bảo vệ nạn nhân trong các vụ án về mua bán người.
2. Nhà nước Việt Nam thỏa thuận và tạo điều kiện thuận lợi, nhanh chóng tiến hành hồi hương nạn nhân trở về nước mà người đó mang quốc tịch; áp dụng các biện pháp thích hợp để thực hiện việc hồi hương theo đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.
Điều 36. Tương trợ tư pháp và dẫn độ
Nhà nước Việt Nam dành ưu tiên cho nước ký kết điều ước quốc tế song phương với Việt Nam sự tương trợ tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về mua bán người.
Việc tương trợ tư pháp và dẫn độ được thực hiện theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các quy định pháp luật của Việt Nam.
CHƯƠNG VI
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁ NHÂN, GIA ĐÌNH, CƠ QUAN, TỔ CHỨC                             TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI
Điều 37. Trách nhiệm của cá nhân
1. Tham gia các hoạt động phòng ngừa mua bán người.
2. Kịp thời ngăn chặn, tố giác tội phạm về mua bán người với cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật này.
3. Tham gia các hoạt động hỗ trợ nạn nhân.
4. Thực hiện quy định khác của pháp luật về phòng, chống mua bán người.
Điều 38. Trách nhiệm của gia đình
1. Tạo môi trường sống lành mạnh trong gia đình; giáo dục, nhắc nhở thành viên của gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người.
2. Thông tin cho thành viên của gia đình các thủ đoạn của tội phạm về mua bán người và hướng dẫn kỹ năng ứng xử khi có nghi ngờ về việc mua bán người.
3. Can ngăn, ngăn chặn thành viên của gia đình tham gia vào hoạt động mua bán người.
4. Chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân là thành viên của gia đình để họ hòa nhập cuộc sống gia đình và cộng đồng.
5. Động viên nạn nhân là thành viên của gia đình hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền trong  phòng, chống tội phạm về mua bán người.
6. Phối hợp với nhà trường, cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống mua bán người.
Điều 39. Trách nhiệm của nhà trường và các cơ sở giáo dục, đào tạo khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
1. Thực hiện việc lồng ghép kiến thức phòng, chống mua bán người vào chương trình giáo dục, đào tạo phù hợp với yêu cầu của từng cấp học, ngành học; tổ chức các hoạt động ngoại khoá tuyên truyền về phòng, chống mua bán người.
2. Tiếp nhận, tạo điều kiện thuận lợi để nạn nhân được học văn hoá, học nghề.
3. Tạo môi trường thân thiện để học sinh, sinh viên, học viên là nạn nhân hoà nhập cộng đồng.
4. Phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống mua bán người theo quy định của pháp luật.
Điều 40. Trách nhiệm của các tổ chức, cơ sở kinh doanh dịch vụ
1. Các tổ chức hoạt động cho, nhận con nuôi, hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài, giới thiệu việc làm, đưa người đi lao động, học tập hoặc du lịch ở nước ngoài, cơ sở kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ và các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để mua bán người có trách nhiệm:
a) Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động; đăng ký lao động với cơ quan quản lý lao động địa phương;
b) Nắm thông tin về khách hàng và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu để phối hợp quản lý, kiểm soát chặt chẽ;
c) Cam kết chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người; không tham gia hoặc tạo điều kiện cho cho hoạt động mua bán người, không để xảy ra tình trạng mua bán người ở cơ sở mình;
d) Tư vấn cho khách hàng về các vấn đề liên quan đến phòng, chống mua bán người.
2. Người lao động làm việc tại các cơ sở kinh doanh, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này phải chấp hành quy định về quản lý hộ khẩu và ký cam kết không vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người.
Điều 41. Trách nhiệm của các cơ quan thông tin đại chúng
1. Thông tin kịp thời, chính xác chính sách, pháp luật về phòng, chống mua bán người; phản ánh về tình hình tội phạm mua bán người và công tác phòng, chống mua bán người; giới thiệu các gương điển hình trong đấu tranh phòng, chống mua bán người; những mô hình phòng, chống mua bán người có hiệu quả.
2. Giữ bí mật thông tin cá nhân của nạn nhân, bí mật điều tra, truy tố, xét xử các vụ án mua bán người trong quá trình đưa tin bài theo quy định của pháp luật.
3. Lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người với các chương trình thông tin, truyền thông khác.
4. Ưu tiên về thời điểm, thời lượng phát sóng thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người trên đài phát thanh, đài truyền hình; về dung lượng và vị trí đăng trên báo in, báo hình, báo điện tử theo quy định của pháp luật.
Điều 42. Trách nhiệm của cơ sở tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân, cơ sở bảo trợ xã hội
1. Cơ sở tiếp nhận nạn nhân có trách nhiệm:
a) Tiếp nhận nạn nhân và người đang chờ xác minh là nạn nhân bị mua bán từ nước ngoài trở về;
b) Thực hiện việc hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân. Nếu họ có nguyện vọng tự trở về nơi cư trú thì hỗ trợ tiền tàu xe, tiền ăn khi đi đường. Trường hợp cần bố trí chỗ ở tạm thời cho họ thì thời hạn lưu trú không quá 15 ngày, kể từ ngày tiếp nhận;
c) Làm thủ tục chuyển giao nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú trước khi bị mua bán, cơ sở hỗ trợ nạn nhân hoặc cho cơ sở bảo trợ xã hội khi hết thời hạn lưu trú.
2. Cơ sở hỗ trợ nạn nhân có trách nhiệm:
a) Tiếp nhận và cung cấp nơi lưu trú cho nạn nhân. Thời hạn lưu trú của nạn nhân không quá 30 ngày, kể từ ngày tiếp nhận. Đối với nạn nhân cần hỗ trợ về sức khoẻ, y tế, trẻ em có hoàn cảnh gia đình khó khăn thì thời gian lưu trú có thể dài hơn nhưng không quá 60 ngày;
b) Thực hiện chế độ hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu, chăm sóc y tế và hỗ trợ tâm lý cho nạn nhân sau khi tiếp nhận phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nguyện vọng của họ và khả năng đáp ứng của cơ sở;
c) Giáo dục kỹ năng sống, hướng nghiệp cho nạn nhân;
d) Đánh giá khả năng hòa nhập cộng đồng của nạn nhân, cung cấp các thông tin về chính sách, dịch vụ hỗ trợ nạn nhân tại cộng đồng;
đ) Cung cấp thông tin cần thiết cho các cơ quan chức năng để đấu tranh phòng, chống tội phạm về mua bán người.
3. Cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm:
a) Tiếp nhận nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân do Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ sở tiếp nhận nạn nhân hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân chuyển đến;
b) Làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác minh nạn nhân theo quy định tại Điều 35 của Luật này;
c) Hướng dẫn nạn nhân làm thủ tục nhận các chế độ hỗ trợ quy định tại Điều 26 của Luật này.
Điều 43. Trách nhiệm của Bộ Công an
1. Trong việc thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người:
a) Đề xuất với Chính phủ, Quốc hội về chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phòng, chống mua bán người;
b) Xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phòng, chống mua bán người;
c) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phòng, chống mua bán người;
d) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan ban hành và tổ chức thực hiện quy định về bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống mua bán người;
đ) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan thực hiện chế độ báo cáo thống kê về phòng, chống mua bán người; tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nhân rộng các mô hình phòng, chống mua bán người;
e) Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người;
g) Thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống mua bán người.
2. Trong công tác đấu tranh phòng, chống mua bán người:
a) Bố trí lực lượng thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm về mua bán người;
b) Thực hiện quản lý về an ninh, trật tự để phòng ngừa tội phạm về mua bán người;
c) Phát động phong trào quần chúng tham gia phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội;
d) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 44. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng
1. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tổ chức tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở địa bàn khu vực biên giới tham gia các hoạt động phòng, chống mua bán người.
2. Bố trí lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống mua bán người tại khu vực biên giới và trên biển.
3. Thực hiện các biện pháp kiểm soát biên giới, cửa khẩu nhằm ngăn chặn việc đưa người ra nước ngoài.
4. Thực hiện hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống mua bán người.
5. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 45. Trách nhiệm của Bộ Lao động -  Thương binh và Xã hội
1. Chủ trì công tác hỗ trợ nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân.
2. Xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chính sách hỗ trợ nạn nhân.
3. Chỉ đạo việc lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người vào các chương trình xoá đói giảm nghèo, đào tạo nghề, giải quyết việc làm.
4. Quản lý, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra công tác giới thiệu việc làm, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để phòng ngừa tội phạm về mua bán người.
Điều 46. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao
1. Thực hiện công tác bảo hộ đối với công dân Việt Nam là nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân thông qua các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
2. Phối hợp với cơ quan hữu quan trong nước và nước ngoài trong việc xác minh, xác định nạn nhân, làm thủ tục đưa nạn nhân về nước.
3. Phối hợp với Bộ Công an và cơ quan hữu quan trong hợp tác quốc tế về phòng, chống mua bán người.
Điều 47. Trách nhiệm của Bộ Tài chính
1. Bố trí ngân sách thực hiện nhiệm vụ phòng, chống mua bán người cho các bộ, ngành và địa phương theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành.
2. Hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương lập dự toán kinh phí phòng, chống mua bán người.
3. Thực hiện việc kiểm tra, quản lý và sử dụng kinh phí theo đúng mục đích.
4. Chủ trì nghiên cứu đề xuất cấp có thẩm quyền các biện pháp phù hợp nhằm huy động sự đóng góp kinh phí từ các nguồn khác nhau trong và ngoài nước.
Điều 48. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân
1. Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân có trách nhiệm:
a) Thực hiện việc truy tố, xét xử nhanh chóng, kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật các vụ án về mua bán người;
b) Trong quá trình truy tố, xét xử vụ án về mua bán người, Viện kiểm sát và Toà án có nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa;
c) Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người làm chứng, người bị hại và người thân thích của họ trong các vụ án về mua bán người.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và cơ quan hữu quan thực hiện việc thống kê tội phạm về mua bán người.
Điều 49. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm:
a) Lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người vào trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
b) Tổ chức thực hiện công tác phòng, chống mua bán người ở địa phương;
c) Lập dự toán và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán người ở địa phương.
2. Ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm:
a) Tiếp nhận, hỗ trợ ban đầu cho nạn nhân, người đang chờ xác minh là nạn nhân và làm các thủ tục cần thiết theo quy định tại các điều 18 và 20 của Luật này;
b) Hỗ trợ, tạo điều kiện cho nạn nhân sớm hòa nhập cộng đồng;
c) Theo dõi và thông báo định kỳ cho Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội về tình hình sinh sống của nạn nhân trên địa bàn; có biện pháp hỗ trợ cần thiết khi nạn nhân có yêu cầu.
Điều 50. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
1. Tổ chức và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên truyền, giáo dục nhân dân kiến thức pháp luật về phòng, chống mua bán người; vận động nhân dân chấp hành pháp luật về phòng, chống mua bán người; tích cực phát hiện, tố giác tội phạm về mua bán người.
2. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những biện pháp cần thiết nhằm phát hiện và phòng ngừa mua bán người.
3. Phòng ngừa, ngăn chặn người của tổ chức mình và mọi công dân tham gia vào hoạt động mua bán người.
4. Tham gia công tác tư vấn về phòng, chống mua bán người và các hoạt động hỗ trợ, bảo vệ động viên, giúp đỡ nạn nhân hòa nhập cộng đồng.
5. Giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người.
Điều 51. Trách nhiệm của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
1. Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 50 của Luật này.
2. Tuyên truyền, giáo dục, vận động đoàn viên, hội viên nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về phòng, chống mua bán người; tích cực phát hiện, tố giác tội phạm về mua bán người.
3. Tham gia xây dựng mạng lưới tuyên truyền viên về phòng, chống mua bán người ở cơ sở.
4. Tham gia công tác tư vấn về phòng, chống mua bán người và các hoạt động vay vốn, dạy nghề, tạo việc làm cho nạn nhân là phụ nữ, đoàn viên thanh niên .
CHƯƠNG VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 52. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày ...... tháng ...... năm 20......
Điều 53. Hướng dẫn thi hành
Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá ....., kỳ họp thứ ..... thông qua ngày ....... tháng ...... năm 20.....
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Nguyễn Phú Trọng