Dự thảo Luật phòng chống mua bán người (lần 8) Print

DỰ THẢO THỨ TÁM LUẬT PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống mua bán người.

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người; tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán; trách nhiệm của Chính phủ, các bộ và địa phương trong phòng, chống mua bán người; hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Mua bán người là hành vi chuyển giao, tiếp nhận người để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
2. Tuyển mộ là hành vi mời chào, tuyển chọn người để mua bán hoặc chuyển giao theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của Luật này.
3. Vận chuyển là hành vi chuyên chở người từ nơi này đến nơi khác để mua bán hoặc chuyển giao theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của Luật này.
4. Chứa chấp là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để mua bán hoặc chuyển giao theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của Luật này.
5. Bóc lột tình dục là hành vi sử dụng một người để mại dâm, nô lệ tình dục hoặc để sản xuất các ấn phẩm khiêu dâm.
6. Bóc lột sức lao động là hành vi sử dụng sức lao động của người khác mà không trả công hoặc trả công không tương xứng với sức lao động người đó đã bỏ ra.
7. Cưỡng bức lao động là hành vi ép buộc người khác phải thực hiện những công việc trái với ý muốn của họ bằng cách dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác.
8. Nạn nhân là người bị xâm hại bởi các hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
9. Cơ sở bảo trợ xã hội là Trung tâm bảo trợ xã hội do Nhà nước thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để tiếp nhận, cung cấp các dịch vụ chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân và các đối tượng bảo trợ xã hội khác.
10. Cơ sở hỗ trợ nạn nhân là tổ chức do tổ chức, cá nhân trong nước  thành lập, hoạt động vì mục đích nhân đạo, phi lợi nhuận để tham gia tiếp nhận, cung cấp các dịch vụ chăm sóc, tư vấn và hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân.
Điều 3. Hành vi mua bán người và các hành vi liên quan đến mua bán người
1. Mua bán người.
2. Chuyển giao, tiếp nhận người trái với ý muốn của họ nhằm bóc lột tình dục, bóc lột sức lao động, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
3. Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người nhằm thực hiện các hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 4. Nguyên tắc phòng, chống mua bán người
1. Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người, lấy phòng ngừa là chính.
2. Ngăn chặn, phát hiện, điều tra và xử lý nghiêm minh, kịp thời, chính xác hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người.
3. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong đấu tranh phòng, chống mua bán người.
4. Giải cứu, bảo vệ, tiếp nhận, xác minh, hỗ trợ nạn nhân kịp thời, chính xác. Tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với các nạn nhân.
5. Tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong phòng, chống mua bán người phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và pháp luật, tập quán quốc tế.
Điều 5. Chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người
1. Kết hợp phòng, chống mua bán người với việc thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, phòng, chống mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.
2. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước hợp tác, tài trợ cho hoạt động phòng, chống mua bán người và hỗ trợ nạn nhân ổn định cuộc sống, hoà nhập cộng đồng; khuyến khích cá nhân, tổ chức trong nước thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật.
3. Hằng năm, Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán người.
4. Khen thưởng cá nhân, tổ chức có thành tích trong công tác phòng, chống mua bán người; bảo đảm chế độ, chính sách đối với người trực tiếp tham gia phòng, chống mua bán người bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ hoặc tài sản theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân
1. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
2. Được hưởng các chế độ hỗ trợ theo quy định của Luật này.
3. Được xem xét để có thể giảm nhẹ hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính đối với một số hành vi vi phạm cụ thể do mình thực hiện như là hậu quả trực tiếp của việc bị mua bán.
4. Cung cấp thông tin liên quan đến việc mua bán người cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.
5. Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
6. Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 7. Các hành vi bị cấm
1. Các hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
2. Lợi dụng hoạt động hỗ trợ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, cho, nhận con nuôi, giới thiệu việc làm, đưa người Việt Nam đi lao động, học tập ở nước ngoài, dịch vụ văn hoá, du lịch và các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
3. Cưỡng bức người khác thực hiện một trong các hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
4. Trả thù, đe dọa trả thù nạn nhân, người tố giác, người làm chứng, người thân thích của họ hoặc người ngăn chặn hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người.
5. Tiết lộ các thông tin cá nhân của nạn nhân liên quan đến việc bị mua bán khi chưa có sự đồng ý của nạn nhân hoặc của người đại diện hợp pháp của nạn nhân là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
6. Cản trở việc tố giác, khai báo và xử lý hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người.
7. Kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân.
8. Giả mạo là nạn nhân.
9. Lợi dụng hoạt động phòng, chống mua bán người để trục lợi hoặc thực hiện các hành vi trái pháp luật.
10. Dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không đúng pháp luật đối với hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người.
11. Các hành vi khác vi phạm các quy định của Luật này.
CHƯƠNG II
PHÒNG NGỪA MUA BÁN NGƯỜI
Điều 8. Thông tin, giáo dục, truyền thông
1. Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống các hành vi quy định tại Điều 7 của Luật này nhằm nâng cao nhận thức về trách nhiệm cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và cộng đồng trong đấu tranh phòng, chống mua bán người, về mối hiểm họa của mua bán người, làm cho mọi người đề cao cảnh giác, tích cực tham gia phòng ngừa, ngăn chặn mua bán người, chống kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân.
2. Nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông bao gồm:
a) Chính sách, pháp luật về phòng, chống mua bán người;
b) Thủ đoạn mua bán người và tác hại của hành vi mua bán người;
c) Kỹ năng ứng xử trong trường hợp có nghi ngờ về việc mua bán người;
d) Biện pháp, mô hình, kinh nghiệm trong phòng, chống mua bán người;
đ) Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cộng đồng trong phòng, chống mua bán người;
e) Chống kỳ thị, phân biệt đối xử với nạn nhân;
g) Các nội dung khác có liên quan đến phòng, chống mua bán người.
3. Việc thông tin, giáo dục, truyền thông được thực hiện bằng các phương thức sau đây:
a) Gặp gỡ, nói chuyện trực tiếp;
b) Cung cấp tài liệu tuyên truyền;
c) Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng;
d) Lồng ghép trong việc giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;
đ) Thông qua hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các loại hình văn hoá quần chúng khác;
e) Các phương thức khác.
4. Xây dựng mạng lưới tuyên truyền viên ở cơ sở; huy động sự tham gia tích cực của các đoàn thể xã hội.
5. Chú trọng công tác thông tin, giáo dục, truyền thông đối với đối tượng là phụ nữ, thanh thiếu niên, nhi đồng, học sinh, sinh viên và những người cư trú tại khu vực biên giới, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn.
Điều 9. Tư vấn về phòng ngừa mua bán người
1. Nội dung tư vấn bao gồm:
a) Cung cấp kiến thức pháp luật về phòng, chống mua bán người; thông tin về nguy cơ và mối hiểm hoạ mua bán người;
b) Cung cấp thông tin về thủ đoạn mua bán người và hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong trường hợp có nghi ngờ về việc mua bán người;
c) Cung cấp những thông tin về quyền, nghĩa vụ của nạn nhân và hướng dẫn cách thức thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó.
2. Việc tư vấn tập trung vào các đối tượng sau đây:
a) Người có nhu cầu tìm kiếm việc làm hoặc đi du lịch trong nước hoặc ở nước ngoài;
b) Người có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài;
c) Người có nhu cầu cho, nhận con nuôi;
d) Người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ;
đ) Nạn nhân và thân nhân của họ.
Điều 10. Quản lý về an ninh, trật tự
1. Theo dõi nhân khẩu, hộ khẩu ở địa bàn dân cư thông qua công tác hộ tịch, hộ khẩu; tăng cường kiểm tra nhân khẩu ở địa bàn.
2. Giám sát sự biến động dân cư trên địa bàn thông qua chế độ đăng ký tạm trú, tạm vắng.
3. Giám sát các đối tượng có tiền án, tiền sự về mua bán người và các đối tượng khác có nghi vấn về mua bán người trên địa bàn.
4. Quản lý và sử dụng có hiệu quả các thông tin về tàng thư, căn cước, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người.
5. Tăng cường tuần tra, kiểm soát tại các cửa khẩu, khu vực biên giới và trên biển nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
6. Trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại tại các cửa khẩu quốc tế phục vụ cho việc nhận dạng người và phát hiện nhanh chóng, chính xác các loại giấy tờ, tài liệu giả mạo; nâng cấp các trang thiết bị kiểm soát, kiểm tra tại các chốt kiểm soát, cửa khẩu.
7. Quản lý công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cấp phát, quản lý và kiểm soát các loại giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh.
8. Phối hợp với lực lượng biên phòng và các lực lượng chức năng khác của các nước láng giềng trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới nhằm phát hiện, ngăn chặn hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này; giải cứu, tiếp nhận nạn nhân.
Điều 11. Quản lý các hoạt động dịch vụ, kinh doanh dịch vụ
1. Quản lý chặt chẽ các hoạt động hỗ trợ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, cho, nhận con nuôi, giới thiệu việc làm, đưa người Việt Nam đi lao động, học tập ở nước ngoài, dịch vụ văn hoá, du lịch và các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để thực hiện hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
2. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này nhằm phát hiện, ngăn chặn việc lợi dụng các hoạt động này để thực hiện hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
Điều 12. Lồng ghép nội dung phòng ngừa mua bán người vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội
1. Phòng ngừa mua bán người là một trong những mục tiêu ưu tiên của chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
2. Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, chính quyền địa phương lồng ghép nội dung phòng ngừa mua bán người vào trong chương trình xóa đói, giảm nghèo, chương trình hỗ trợ tín dụng cho các hộ gia đình khó khăn để phát triển kinh tế, chương trình đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chương trình phòng, chống tội phạm, phòng, chống mại dâm và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác.
Điều 13. Cá nhân tham gia phòng ngừa mua bán người
1. Tham gia các hoạt động phòng ngừa hành vi mua bán người, hành vi
liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người.
2. Kịp thời ngăn chặn, báo tin hoặc tố giác hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người với cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này.
3. Thực hiện quy định khác của pháp luật về phòng, chống mua bán người.
Điều 14. Phòng ngừa mua bán người trong gia đình
1. Tạo môi trường sống lành mạnh trong gia đình; giáo dục, nhắc nhở thành viên của gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người.
2. Thông tin cho thành viên của gia đình các thủ đoạn của tội phạm về mua bán người và hướng dẫn kỹ năng ứng xử khi có nghi ngờ về việc mua bán người.
3. Ngăn chặn thành viên của gia đình tham gia thực hiện hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
4. Chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân là thành viên của gia đình để họ hòa nhập cuộc sống gia đình và cộng đồng.
5. Động viên nạn nhân là thành viên của gia đình hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền trong phòng, chống mua bán người.
6. Phối hợp với nhà trường, cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống mua bán người.
Điều 15. Phòng ngừa mua bán người trong nhà trường và các cơ sở giáo dục, đào tạo khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
1. Tổ chức các hoạt động ngoại khoá tuyên truyền về phòng, chống mua bán người.
2. Tiếp nhận, tạo điều kiện thuận lợi để nạn nhân được học văn hoá, học nghề.
3. Tạo môi trường thân thiện để học sinh, sinh viên, học viên là nạn nhân hoà nhập cộng đồng.
4. Phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống mua bán người theo quy định của pháp luật.
Điều 16. Phòng ngừa mua bán người trong các tổ chức, cơ sở kinh doanh dịch vụ
1. Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, cho, nhận con nuôi, giới thiệu việc làm, đưa người Việt Nam đi lao động, học tập ở nước ngoài, dịch vụ văn hoá, du lịch và các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để thực hiện hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này có trách nhiệm:
a) Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động; đăng ký lao động với cơ quan quản lý lao động địa phương;
b) Nắm thông tin về khách hàng và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu để phối hợp quản lý, kiểm soát;
c) Cam kết chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người; không tham gia hoặc tạo điều kiện cho cho hoạt động mua bán người, không để xảy ra tình trạng mua bán người ở cơ sở mình;
d) Tư vấn cho khách hàng về các vấn đề liên quan đến phòng, chống mua bán người.
2. Người lao động làm việc tại các cơ sở kinh doanh, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này phải chấp hành quy định về quản lý hộ khẩu và ký cam kết không vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người.
Điều 17. Cơ quan thông tin đại chúng tham gia phòng ngừa mua bán người
1. Thông tin kịp thời, chính xác chính sách, pháp luật về phòng, chống mua bán người; phản ánh về tình hình tội phạm mua bán người và công tác phòng, chống mua bán người; giới thiệu các gương điển hình trong đấu tranh phòng, chống mua bán người; những mô hình phòng, chống mua bán người có hiệu quả.
2. Giữ bí mật thông tin cá nhân của nạn nhân, bí mật điều tra, truy tố, xét xử các vụ án mua bán người trong quá trình đưa tin, bài theo quy định của pháp luật.
3. Lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người với các chương trình thông tin, truyền thông khác.
4. Ưu tiên về thời điểm, thời lượng phát sóng thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống mua bán người trên đài phát thanh, đài truyền hình; về dung lượng và vị trí đăng trên báo in, báo hình, báo điện tử theo quy định của pháp luật.
Điều 18. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tham gia hoạt động phòng ngừa mua bán người
1. Tổ chức và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên truyền, giáo dục nhân dân kiến thức pháp luật về phòng, chống mua bán người; vận động nhân dân chấp hành pháp luật về phòng, chống mua bán người; tích cực phát hiện, tố giác hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người.
2. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những biện pháp cần thiết nhằm phát hiện và phòng ngừa hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người.
3. Phòng ngừa, ngăn chặn người của tổ chức mình và mọi công dân thực hiện hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
4. Tham gia công tác tư vấn về phòng, chống mua bán người.
5. Tham gia giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm và hoạt động cho vay vốn cho nạn nhân để giúp họ sớm hòa nhập cộng đồng.
6. Giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người.
CHƯƠNG III
PHÁT HIỆN, XỬ LÝ HÀNH VI MUA BÁN NGƯỜI, HÀNH VI LIÊN QUAN ĐẾN MUA BÁN NGƯỜI VÀ CÁC HÀNH VI KHÁC VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI
Điều 19. Tố giác, báo tin hành vi vi phạm
1. Cá nhân có nghĩa vụ tố giác, báo tin về hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người với cơ quan Công an, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức khác.
2. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác, tin báo về hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người có trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền hoặc kịp thời thông báo với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Điều 20. Phát hiện hành vi vi phạm thông qua hoạt động kiểm tra, thanh tra
1. Cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, cho, nhận con nuôi, giới thiệu việc làm, đưa người Việt Nam đi lao động, học tập ở nước ngoài, cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, du lịch và các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để thực hiện hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này phải tự kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình; nếu phát hiện có hành vi vi phạm thì phải kịp thời báo tin bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
2. Các cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tự kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình; nếu phát hiện hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người thì phải xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông qua hoạt động kiểm tra, thanh tra có trách nhiệm chủ động phát hiện, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người theo quy định của pháp luật.
Điều 21. Phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm thông qua hoạt động nghiệp vụ phòng, chống tội phạm
1. Lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống mua bán người trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền và trách nhiệm thực hiện một số hoạt động sau đây:
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống các hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này tại các địa bàn được phân công phụ trách ở nội địa, biên giới và trên biển;
b) Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần thiết để phát hiện, ngăn chặn các hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này;
c) Yêu cầu cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan phục vụ cho việc điều tra, phát hiện, ngăn chặn các hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này, bảo vệ nạn nhân, người làm chứng và những người khác theo quy định của Luật này và các quy định pháp luật khác có liên quan;
d) Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ nạn nhân, người tố giác, người làm chứng cũng như người thân thích của họ khi những người này bị đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản.
2. Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh yêu cầu của lực lượng phòng, chống mua bán người quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.
3. Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục, thẩm quyền áp dụng các biện pháp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Điều 22. Giải quyết tin báo, tố giác hành vi vi phạm
1. Việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm mua bán người hoặc kiến nghị khởi tố vụ án về mua bán người được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người được thực hiện theo pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Điều 23. Xử lý vi phạm
1. Người nào phạm tội mua bán người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Trường hợp hành vi mua bán người chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy theo đối tượng, tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Người nào thực hiện hành vi liên quan đến mua bán người hoặc các
hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người thì tùy theo đối tượng, tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
3. Người giả mạo là nạn nhân thì ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi hoàn các khoản kinh phí hỗ trợ mà mình đã nhận.
4. Chính phủ quy định việc xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người.
CHƯƠNG IV
TIẾP NHẬN, XÁC MINH VÀ BẢO VỆ NẠN NHÂN
MỤC I. TIẾP NHẬN, XÁC MINH NẠN NHÂN
Điều 24. Tiếp nhận, xác minh nạn nhân bị mua bán trong nước
1. Nạn nhân hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân có thể đến Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi gần nhất khai báo về việc bị mua bán.
Cơ quan, tổ chức tiếp nhận khai báo có trách nhiệm chuyển người đó đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở.
2. Uỷ ban nhân dân cấp xã quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện việc tiếp nhận người đến khai báo; hỗ trợ về ăn, mặc và các vật dụng cá nhân thiết yếu khác cho nạn nhân đến khai báo trong trường hợp cần thiết; hỗ trợ tiền tàu xe, tiền ăn trong thời gian đi đường để họ tự trở về nơi cư trú. Trong trường hợp họ không có nơi cư trú hoặc có giấy tờ xác định là nạn nhân và có nguyện vọng được lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân thì làm thủ tục chuyển giao người đó cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
3. Trường hợp nạn nhân đã có giấy tờ, tài liệu quy định tại Điều 27 của Luật này thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó trở về cư trú hoặc cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân đã tiếp nhận người đó hướng dẫn họ làm thủ tục nhận chế độ hỗ trợ quy định tại các điều 33, 34, 35, 36 và 37 của Luật này. Trường hợp người đó chưa có giấy tờ xác định là nạn nhân thì làm thủ tục đề nghị Công an cấp huyện xác minh nạn nhân.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân, Công an cấp huyện có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức đã đề nghị và cho đương sự. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh có thể kéo dài thêm nhưng không quá 60 ngày.
Điều 25. Tiếp nhận nạn nhân được giải cứu
1. Cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển đã giải cứu nạn nhân thực hiện việc tiếp nhận, hỗ trợ về ăn, mặc và các vật dụng cá nhân thiết yếu khác cho người được giải cứu trong trường hợp cần thiết; hỗ trợ tiền tàu xe, tiền ăn trong thời gian đi đường để họ tự trở về nơi cư trú. Trong trường hợp họ không có nơi cư trú hoặc đã được xác định là nạn nhân và có nguyện vọng được lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân thì làm thủ tục chuyển giao người đó cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
2. Cơ quan đã giải cứu có trách nhiệm xác nhận người được giải cứu là nạn nhân và hướng dẫn họ làm thủ tục nhận chế độ hỗ trợ quy định tại các điều 33, 34, 35, 36 và 37 của Luật này. Trường hợp chưa có đủ căn cứ để xác nhận người đó là nạn nhân thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó trở về cư trú hoặc cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân đã tiếp nhận họ làm thủ tục đề nghị Công an cấp huyện xác minh nạn nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật này.
Điều 26. Tiếp nhận, xác minh nạn nhân từ nước ngoài trở về
1. Việc tiếp nhận, xác minh nạn nhân từ nước ngoài trở về qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện như sau:
a) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân và phối hợp với Bộ Công an trong việc xác minh nhân thân của nạn nhân, cấp giấy tờ cần thiết, làm thủ tục đưa họ về nước;
b) Cơ quan có thẩm quyền của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thực hiện việc tiếp nhận nạn nhân, nếu họ có nguyện vọng tự trở về nơi cư trú, thì hỗ trợ tiền tàu xe, tiền ăn trong thời gian đi đường và hướng dẫn họ làm thủ tục nhận chế độ hỗ trợ quy định tại các điều 33, 34, 35, 36 và 37 của Luật này. Trường hợp họ không có nơi cư trú hoặc có nguyện vọng được lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân thì chuyển giao họ cho những cơ sở này.
2. Việc tiếp nhận nạn nhân bị mua bán ra nước ngoài có đủ điều kiện trở về Việt Nam theo khuôn khổ thoả thuận song phương được thực hiện theo quy định của thoả thuận song phương đó.
3. Việc tiếp nhận, xác minh nạn nhân bị mua bán ra nước ngoài tự trở về được thực hiện theo quy định tại Điều 24 của Luật này.
Điều 27. Giấy tờ, tài liệu có giá trị xác định nạn nhân
1. Thông báo của Công an cấp huyện về kết quả xác minh một người là nạn nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật này.
2. Giấy tờ xác nhận của cơ quan giải cứu theo quy định tại Điều 25 của Luật này.
3. Giấy tờ xác nhận của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
4. Giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp đã
được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc Bộ Ngoại giao Việt Nam hợp pháp hoá lãnh sự, chứng minh người đó là nạn nhân.
MỤC II. BẢO VỆ NẠN NHÂN
Điều 28. Giải cứu, bảo vệ khẩn cấp 
Khi có cơ sở cho rằng một người bị mua bán thì cơ quan quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật này có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để giải cứu; trong trường hợp người đó có nguy cơ bị gây thiệt hại tính mạng, sức khoẻ thì áp dụng các biện pháp bảo vệ khẩn cấp.
Điều 29. Bảo vệ an toàn cho nạn nhân
1. Các biện pháp bảo vệ an toàn cho nạn nhân và người thân thích của họ bao gồm:
a) Cung cấp nơi tạm lánh khi có nguy cơ bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của họ;
b) Bố trí lực lượng bảo vệ tại nơi ở, nơi làm việc, học tập hoặc tại phiên tòa theo quy định của pháp luật;
c) Thay đổi chỗ ở và giữ bí mật thông tin về nơi ở, nơi làm việc, học tập của nạn nhân và người thân thích của họ;
d) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa đối tượng có hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân và người thân thích của họ;
đ) Các biện pháp khác theo quy định của pháp luật.
2. Khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của nạn nhân thì cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này để bảo vệ an toàn cho nạn nhân và người thân thích của họ.
Điều 30. Bảo vệ bí mật thông tin cá nhân của nạn nhân
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được tiết lộ các thông tin cá nhân của nạn nhân, trừ trường hợp có sự đồng ý của nạn nhân hoặc của người đại diện hợp pháp của nạn nhân là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.
2. Tòa án có thể xem xét, quyết định xét xử kín đối với vụ án mua bán người theo yêu cầu của nạn nhân.
CHƯƠNG V 
HỖ TRỢ NẠN NHÂN
Điều 31. Đối tượng và chế độ hỗ trợ
1. Nạn nhân là công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam, tuỳ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể quy định tại các điều 32, 33, 34, 35, 36 và 37 của Luật này, được hưởng các chế độ hỗ trợ sau đây:
a) Hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại;
b) Hỗ trợ y tế;
c) Hỗ trợ tâm lý;
d) Trợ giúp pháp lý;
đ) Hỗ trợ học văn hóa, học nghề;
e) Trợ cấp khó khăn ban đầu; hỗ trợ vay vốn.
2. Nạn nhân là người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam, tuỳ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể quy định tại các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật này, được hưởng các chế độ hỗ trợ quy định tại các điểm a, b, c, và d khoản 1 Điều này.
3. Nạn nhân là người chưa thành niên, tuỳ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể quy định tại các điều 32, 33, 34, 35, 36 và 37 của Luật này, được hưởng các chế độ hỗ trợ quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Người chưa thành niên đi cùng nạn nhân, tuỳ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể quy định tại các điều 32, 33 và 34 của Luật này, được hưởng chế độ hỗ trợ quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này. 
5. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục thực hiện chế độ hỗ trợ đối với nạn nhân.
Điều 32. Hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại
Trong trường hợp cần thiết, nạn nhân được bố trí chỗ ở tạm thời, được hỗ trợ về ăn, mặc và các vật dụng cá nhân thiết yếu khác trên cơ sở cân nhắc đến các đặc điểm về lứa tuổi, giới tính, tình trạng sức khoẻ. Đối với nạn nhân có nguyện vọng trở về nơi cư trú mà không có khả năng chi trả tiền tàu xe và tiền ăn trong thời gian đi đường thì được hỗ trợ các khoản chi phí này.
Điều 33. Hỗ trợ y tế
Trong thời gian lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân, nếu nạn nhân cần phải được chăm sóc y tế để phục hồi sức khoẻ thì được xem xét hỗ trợ chi phí khám, chữa bệnh.
Điều 34. Hỗ trợ tâm lý
Nạn nhân được hỗ trợ về tâm lý trong thời gian lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
Điều 35. Trợ giúp pháp lý
1. Nạn nhân được trợ giúp pháp lý tại các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý.
2. Phạm vi, hình thức, thủ tục đề nghị trợ giúp pháp lý được thực hiện theo các quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.
Điều 36. Hỗ trợ học văn hóa, học nghề
1. Nạn nhân là người chưa thành niên thuộc hộ nghèo hoặc có hoàn cảnh
gia đình khó khăn, nếu tiếp tục đi học thì được hỗ trợ tiền học phí, tiền mua sách giáo khoa và đồ dùng học tập trong năm học đầu tiên.
2. Nạn nhân khi trở về địa phương, nếu thuộc hộ nghèo hoặc có hoàn cảnh gia đình khó khăn thì được xem xét, hỗ trợ học nghề. Việc tổ chức dạy nghề do các cơ sở dạy nghề tại địa phương thực hiện.
Điều 37. Trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn
1. Nạn nhân khi trở về địa phương nếu thuộc hộ nghèo hoặc có hoàn cảnh gia đình khó khăn thì được hỗ trợ một lần tiền trợ cấp khó khăn ban đầu.
2. Nạn nhân có nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh thì được xem xét, tạo điều kiện vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo và các quỹ khác theo quy định của pháp luật.
3. Bộ Tài chính phối hợp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 38. Cơ quan, tổ chức thực hiện việc hỗ trợ nạn nhân
1. Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Công an, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển đã tiếp nhận nạn nhân quy định tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này thực hiện hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại cho nạn nhân.
2. Cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân thực hiện hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu và chi phí đi lại; hỗ trợ tâm lý; hỗ trợ y tế cho nạn nhân.
3. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân.
4. Cơ sở giáo dục đào tạo, dạy nghề thực hiện việc hỗ trợ học văn hóa, học nghề cho nạn nhân.
5. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo và các quỹ khác thực hiện trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn cho nạn nhân.
Điều 39. Cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân
1. Cơ sở bảo trợ xã hội được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý thực hiện các nhiệm vụ sau đây trong việc hỗ trợ nạn nhân:
a) Tiếp nhận và cung cấp nơi lưu trú cho nạn nhân;
b) Thực hiện chế độ hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu, chăm sóc y tế và hỗ trợ tâm lý cho nạn nhân sau khi tiếp nhận phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nguyện vọng của họ và khả năng đáp ứng của cơ sở;
c) Giáo dục kỹ năng sống, hướng nghiệp cho nạn nhân;
d) Đánh giá khả năng hòa nhập cộng đồng của nạn nhân, cung cấp các thông tin về chính sách, dịch vụ hỗ trợ nạn nhân tại cộng đồng;
đ) Cung cấp thông tin cần thiết cho các cơ quan chức năng để đấu tranh phòng, chống hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người;
e) Phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan đưa nạn nhân về với gia đình; hỗ trợ, tạo điều kiện để nạn nhân ổn định cuộc sống.
2. Cơ sở hỗ trợ nạn nhân do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc cá nhân trong nước thành lập, tham gia thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với quy định trong giấy phép thành lập do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Chính phủ quy định cụ thể điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
CHƯƠNG VI
TRÁCH NHIỆM CỦA CHÍNH PHỦ, CÁC BỘ VÀ ĐỊA PHƯƠNG                                              TRONG PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI
Điều 40. Trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người, có trách nhiệm:
a) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch về phòng, chống mua bán người;
b) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người;
c) Tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về phòng, chống mua bán người;
d) Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống mua bán người;
đ) Phối hợp hoạt động của các cơ quan chức năng và các tổ chức, đoàn thể trong công tác hỗ trợ nạn nhân hoà nhập cộng đồng;
e) Thống kê về phòng, chống mua bán người;
g) Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý hành vi mua bán người, hành vi liên quan đến mua bán người và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người;
h) Hợp tác quốc tế về phòng, chống mua bán người.
2. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 41 của Luật này.
3. Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao và các Bộ, cơ quan ngang bộ khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại các điều 42, 43 và 44 của Luật này và pháp luật có liên quan.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người tại địa phương, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 45 của Luật này.
Điều 41. Trách nhiệm của Bộ Công an
1. Trong việc thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người:
a) Đề xuất với Chính phủ, Quốc hội về chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, về việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hoặc điều ước quốc tế liên quan đến phòng, chống mua bán người;
b) Xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phòng, chống mua bán người;
c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về phòng, chống mua bán người;
d) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan ban hành và tổ chức thực hiện quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác phòng, chống mua bán người;
đ) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan thực hiện chế độ báo cáo thống kê về phòng, chống mua bán người; tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nhân rộng các mô hình phòng, chống mua bán người;
e) Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người;
g) Thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống mua bán người.
2. Trong công tác đấu tranh phòng, chống mua bán người:
a) Bố trí lực lượng thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống mua bán người;
b) Thực hiện quản lý về an ninh, trật tự để phòng ngừa mua bán người;
c) Chỉ đạo cơ quan Công an thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận, xác minh, hỗ trợ nạn nhân theo quy định tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này;
d) Phát động phong trào quần chúng tham gia phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Điều 42. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng
1. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan tổ chức tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở địa bàn khu vực biên giới tham gia các hoạt
động phòng, chống mua bán người.
2. Chỉ đạo lực lượng Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển thực hiện nhiệm vụ phòng, chống mua bán người tại khu vực biên giới và trên biển theo quy định của pháp luật, tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân theo quy định tại các điều 25 và 26 của Luật này.
3. Thực hiện quản lý về an ninh, trật tự tại khu vực biên giới và trên biển để phòng ngừa mua bán người.
4. Thực hiện các biện pháp kiểm soát biên giới, cửa khẩu nhằm ngăn chặn việc mua bán người.
5. Thực hiện hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống mua bán người theo thẩm quyền.
Điều 43. Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
1. Xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chính sách hỗ trợ nạn nhân.
2. Quản lý công tác hỗ trợ nạn nhân theo quy định của Luật này.
3. Chỉ đạo việc lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người vào các chương trình giảm nghèo, đào tạo nghề, giải quyết việc làm.
4. Hướng dẫn cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân quy định tại Điều 39 của Luật này thực hiện việc hỗ trợ nạn nhân.
5. Quản lý, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra công tác giới thiệu việc làm, đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài nhằm hạn chế nguy cơ lợi dụng các hoạt động này để mua bán người.
6. Thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người theo thẩm quyền.
Điều 44. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao
1. Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện công tác bảo hộ đối với công dân Việt Nam là nạn nhân bị mua bán ra nước ngoài; phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong và ngoài nước thực hiện việc xác minh và các thủ tục cần thiết khác để đưa nạn nhân là công dân Việt Nam về nước.
2. Phối hợp với Bộ Công an và cơ quan có thẩm quyền thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống mua bán người.
Điều 45. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm:
a) Lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người vào trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
b) Tổ chức thực hiện công tác phòng, chống mua bán người ở địa phương;
c) Bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán người ở địa phương.
2. Ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm:
a) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận tổ chức, tạo điều kiện cho hoạt động tư vấn về phòng, chống mua bán người ở cơ sở;
b) Tiếp nhận nạn nhân, thực hiện việc hỗ trợ cho nạn nhân và làm các thủ tục cần thiết theo quy định tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này;
c) Hỗ trợ, tạo điều kiện cho nạn nhân sớm hòa nhập cộng đồng.
CHƯƠNG VII 
HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI
Điều 46. Nguyên tắc hợp tác quốc tế
Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền.
Điều 47. Thực hiện hợp tác quốc tế
1. Trên cơ sở các quy định của Luật này và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện các chương trình hợp tác với các cơ quan hữu quan của các nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài về tăng cường năng lực pháp luật, thông tin, công nghệ và đào tạo về phòng, chống mua bán người.
2. Việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan của Việt Nam với các cơ quan hữu quan của nước ngoài có liên quan để giải quyết vụ việc cụ thể về mua bán người phải tuân theo các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước có liên quan là thành viên.
Trong trường hợp Việt Nam và nước có liên quan không cùng tham gia điều ước quốc tế thì các cơ quan chức năng có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện việc hợp tác quốc tế trong từng trường hợp cụ thể trên nguyên tắc có đi có lại, phù hợp với pháp luật của Việt Nam và pháp luật, tập quán quốc tế.
Điều 48. Hợp tác quốc tế trong việc giải cứu và hồi hương nạn nhân
1. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện để các cơ quan chức năng của Việt Nam hợp tác với các cơ quan hữu quan của nước khác trong việc giải cứu, bảo vệ nạn nhân bị mua bán.
2. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi trong việc hồi hương nạn nhân là người nước ngoài trở về nước mà người đó có quốc tịch hoặc có nơi thường trú cuối cùng; áp dụng các biện pháp thích hợp để việc hồi hương nạn nhân được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

Điều 49. Tương trợ tư pháp
Quan hệ tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và nước có liên quan được thực hiện trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó cùng là thành viên hoặc trên nguyên tắc có đi có lại phù hợp với pháp luật của Việt Nam và pháp luật, tập quán quốc tế.
CHƯƠNG VIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 50. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày ...... tháng ...... năm 201......
Điều 51. Hướng dẫn thi hành
Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá ....., kỳ họp thứ ..... thông qua ngày ....... tháng ...... năm 201.....

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Nguyễn Phú Trọng